Điều trị can thiệp nội mạch Hiệu quả tốt hơn rtPA đường tĩnh mạch khi thực hiện sớm với trường hợp tắc động mạch lớn. Chỉ định: Bệnh nhân nhập viện trong cửa sổ 0 - 4,5 giờ nhưng có chống chỉ định với tiêu sợi huyết tĩnh mạch.
Dự phòng huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân Ngoại khoa (theo ACCP) Prophylaxis of venous thromboembolism (VTE) in surgical patients Bố cục nội dung. GIỚI THIỆU; PHÂN TẦNG NGUY CƠ HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH (VTE) Cập nhật phác đồ điều trị (protocols), hướng dẫn về kỹ thuật (skills
Liều dùng của thuốc Pradaxa 75 (dabigatran) Phòng tai biến thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch sau phẫu thuật thay thế khớp gối. Nên uống trong vòng 1-4 giờ sau phẫu thuật 1 viên 110 mg. Tiếp tục 2 viên x 1 lần/ngày x 10 ngày. Phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch sau phẫu thuật thay
Phác Đồ Điều Trị Rối Loạn Thần Kinh Thực Vật. 28/04/2021. Tìm phát âm về kinh nghiệm chữa trị náo loạn thần kinh thực thứ luôn là chủ thể được không ít tín đồ quyên tâm. Theo y học tập, sự mất cân bằng thân hệ thần kinh giao cảm cùng phó giao cảm là ngulặng nhân
Các yếu tố nguy cơ xác định bằng chẩn đoán hình ảnh. Image Defined Risk Factors - IDRF. Khối u nằm ở hai khoang của cơ thể : cổ-ngực, ngực-bụng, bụng-tiểu khung. Vùng cổ: khối u bao quanh động mạch cảnh và /hoặc động mạch đốt sống và/hoặc tĩnh mạch cảnh trong; khối u xâm lấn xương nền sọ; khối u chèn ép
. ĐẠI CƯƠNG Định nghĩa Huyết khối tĩnh mạch nội sọ huyết khối tĩnh mạch nội sọ là tình trạng bệnh lý làm hẹp lòng các xoang và/hoặc các tĩnh mạch nội sọ gây cản trở dòng máu sau não, ứ trệ máu trong não và giảm tưới máu não dẫn tới các triệu chứng lâm sàng do tổn thương chức năng vùng não tương ứng. Giải phẫu Các xoang màng cứng dẫn máu từ não vào tĩnh mạch cổ. Một số xoang hay bị nhiễm khuẩn, đó là xoang bên transverse S, xoang hang cavernous S, xoang đá petrosus S và hiếm hơn là xoang dọc longitudinal S. Tỷ lệ Bệnh hiếm gặp, chưa có nhiều số liệu, tuy nhiên, các tác giả cho rằng bệnh có xu hướng ngày càng nhiều. Huyết khối tĩnh mạch nội sọ thường kèm theo các bệnh nhiễm khuẩn và tình trạng tăng đông. Lâm sàng đa dạng và thường kèm theo các tình trạng bệnh lý thần kinh khác. Nhiễm khuẩn luôn là nguyên nhân hàng đầu của huyết khối tĩnh mạch nội sọ ở các nước chậm phát triển, nhưng người ta cũng thấy ngày càng có nhiều các trường hợp bệnh lý huyết khối tĩnh mạch nội sọ có liên quan tới tình trạng tăng đông, bệnh lý ác tính, bệnh máu cũng như bệnh khớp. Theo các số liệu cũ, huyết khối tĩnh mạch nội sọ thường gặp ở phụ nữ hơn có liên quan tới quá trình chửa đẻ và thuốc tránh thai, nhưng gần đây người ta thấy tỷ lệ mắc bệnh giữa 2 giới là tương đương nhau. Tương tự như vậy trước kia người ta cho rằng huyết khối tĩnh mạch nội sọ thường gặp ở những người cao tuổi, nhưng ngày nay các nghiên cứu cho thấy huyết khối tĩnh mạch nội sọ có thể gặp ở mọi lứa tuổi, thậm chí tỷ lệ mắc bệnh ở tuổi trẻ lại có xu hướng tăng cao. Huyết khối xoang bên hầu như luôn do viêm tai, xoang thẳng và xoang dọc thường không phải do nhiễm khuẩn. Huyết khối tĩnh mạch nội sọ ở các phụ nữ trẻ thường do uống thuốc ngừa thai và hút thuốc lá. Ở các nước đang phát triển, tình trạng sau sinh đẻ là yếu tố nguy cơ hay gặp nhất. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, gần 25 – 30% huyết khối tĩnh mạch nội sọ là nguyên phát. NGUYÊN NHÂN VÀ PHÂN LOẠI Đây là quá trình huyết khối các tĩnh mạch vỏ não và các tĩnh mạch não sâu, các xoang tĩnh mạch. Vì có sự khác nhau trong cơ chế bệnh sinh nên huyết khối tĩnh mạch nội sọ được chia thành 2 loại là do nhiễm khuẩn và không nhiễm khuẩn. Huyết khối tĩnh mạch nhiễm khuẩn – Khu trú + Viêm màng não. + Mủ dưới và quanh màng cứng. + Viêm não. + Áp-xe nội sọ. + Viêm, nhiễm khuẩn vùng mặt, da đầu, vùng hầu họng và nhiễm khuẩn răng miệng. Toàn thân + Nhiễm khuẩn huyết. + Viêm nội tâm mạc. + Thương hàn. + Lao. + Sởi. + Viêm gan. + Sốt rét. + Bệnh ký sinh trùng và nấm Không do nhiễm khuẩn Chấn thương cục bộ + Chấn thương sọ não + Phẫu thuật thần kinh. + Nhồi máu não, chảy máu não. + Thông tĩnh mạch vùng cổ. Tân sản + u chèn ép. + Bệnh hệ thống ác tính. + u màng mềm. Các bệnh tuần hoàn + Thông động mạch cảnh – xoang hang. + Mất nước. + Dị dạng động – tĩnh mạch. + Bệnh tim bẩm sinh và mắc phải. Hormon + Chửa, sau khi sinh. + Điều trị bằng estrogen/progesteron. + Điều trị bằng androgen. Bệnh máu thiếu máu huyết tán, bệnh hồng cầu lưỡi liềm, giảm tiểu cầu. Thuốc aminocaproic acid, heparin, ectasy, cisplatin… Rối loạn đông máu thiếu các yếu tố đông máu, các bệnh gây rối loạn đông máu. Các loại khác sau mổ, xạ trị, nguyên phát. LÂM SÀNG Đặc điểm chung Nhìn chung khoảng 70% các trường hợp bệnh tiến triển hàng ngày cho tới hàng tuần. Tuy nhiên bệnh có thể khởi phát đột ngột giống như các thể đột qụy mạch máu não khác, hoặc cũng có những trường hợp bệnh tiến triển chậm như u não. Không có triệu chứng đặc hiệu. Các triệu chứng thường gặp Các triệu chứng định hướng Đau đầu hay gặp nhất 80% và thường là triệu chứng sớm nhất. Đau tai, sưng sau tai, chảy nước tai. Lồi mắt. Mất thị lực. Nhìn mờ, nhìn đôi. Sốt. Hội chứng màng não. Tăng áp lực nội sọ đau đầu, buồn nôn, nôn, giảm thị lực, phù nề gai thị thần kinh khoảng 50%. Đau mắt, đau răng. Chóng mặt. Triệu chứng tổn thương thần kinh khu trú Triệu chứng thần kinh khu trú chiếm 50 – 75% số ca, thường do tăng áp tĩnh mạch kèm theo nhồi máu hoặc chảy máu. Liệt nửa người hay gặp nhất. Rối loạn cảm giác nửa người. Rối loạn ngôn ngữ. Bán manh. Liệt dây thần kinh sọ. Rung giật nhãn cầu. Thất điều. Các triệu chứng toàn thế Triệu chứng ở cả 2 bên cơ thể hoặc thay đổi Co giật toàn thể hoặc cục bộ 33%. Rối loạn ý thức các mức độ khác nhau và rối loạn tâm thần chiếm khoảng 25% số ca. CHẨN ĐOÁN Các thể huyết khối tĩnh mạch não Huyết khối tĩnh mạch nhiễm khuẩn Viêm tĩnh mạch huyết khối xoang bên hay xoang ngang Lâm sàng Thường sau nhiễm khuẩn tai giữa hoặc xương đá mạn tính vài ngày đến vài tuần. Biểu hiện lâm sàng là các triệu chứng đau đầu lan tỏa, một sô trường hợp có phù nê gai thị thân kinh. Nếu quá trình bệnh lý chỉ xảy ra trong phạm vi xoang bên thì không có triệu chứng thân kinh nào khác nhưng nếu quá trình bệnh lý lan tới hành tĩnh mạch cổ jugular bulb thì có thể có thêm hội chứng Vernet tổn thương dây IX, dây X và dây XI và khi có kèm tổn thương hội tụ Herophili torcula sẽ gây tàng áp lực nội sọ. Khi bị HK xoang ngang thường kèm theo các triệu chứng đau tai, chảy nước tai, cứng cổ – gáy và bệnh hạch bạch huyết lymphadenopathy vì nguyên nhân của huyết khối tĩnh mạch nội sọ thường do viêm tai xương giữa, viêm xương chũm. Tổn thương xoang tĩnh mạch dọc giữa superior sagittal sinus thường sẽ gây co giật và các triệu chứng thần kinh khu trú. sốt luôn có và cách nhật, các triệu chứng biểu hiện nhiêm độc máu nổi lên rõ. Cục tắc nhiễm khuẩn có thể di cư và gây xuất huyết đốm peterchien ở da, niêm mạc và gây nhiễm mủ phổi pulmonal sepsis. Chẩn đoán Các nghiệm pháp khám lâm sàng + Nghiệm pháp Tobey – Ayer dương tính trong khi làm nghiệm pháp Queckenstedt nếu ấn tĩnh mạch cổ từng bên một thì khi ấn bên có xoang tĩnh mạch bị tắc, lưu thông dịch não tủy sẽ không tăng. + Nghiệm pháp Crowe dương tính nếu ấn tĩnh mạch cổ thấy tĩnh mạch mặt và tĩnh mạch võng mạc căng phồng, điều đó có nghĩa là tĩnh mạch cổ đối diện hoặc xoang bên của nó bị tắc. Tuy nhiên, cả hai nghiệm pháp trên đều không hoàn hảo vì các tĩnh mạch có rất nhiều bất thường về giải phẫu Khi ép các tĩnh mạch nguy cơ tăng áp lực nội sọ sẽ rất cao. Khi áp lực nội sọ tăng cao, khả năng nghi ngờ áp – xe tiểu não cũng cao, khi đó lâm sàng sẽ thấy có nhiều triệu chứng tiểu não. Dịch não tủy có thể bình thường nhưng thường có tăng albumin và tăng tế bào mức độ từ nhẹ đến vừa. Người ta thường chụp tĩnh mạch để chẩn đoán và đây là phương pháp chẩn đoán xác định. Chụp cắt lớp vi tính được chỉ định nhằm loại trừ áp – xe và não nước. Viêm huyết khối xoang hang cavernous sinus thrombophlebitis Bệnh nhân thường có tiền sử nhiễm khuẩn. Gần 80% HK xoang hang là do viêm xoang hàm trên, viêm xoang bướm và viêm nhiễm từ tổ chức phần mềm ở 1/3 giữa của mặt gây nên.. Lâm sàng Sốt dao động. Đau đầu. Triệu chứng về mắt đau sau hốc mắt, phù nề mi mắt, phù nề kết mạc nặng nề chemosis, lồi mắt, có phù nề gai thị thần kinh, có thể có xuất huyết võng mạc. Nhiễm độc máu. Tổn thương các dây thần kinh sọ não liệt các dây III, IV, V nhánh 1 và 2, dây VI do viêm mủ các khe nhỏ dưới da vùng nhãn cầu orbital cellulitis và viêm xoang má. Quá trình bệnh lý có thể lan sang xoang hang bên đối diện trong vòng một vài ngày. Phần sau của xoang hang có thể nhiễm khuẩn qua tĩnh mạch xương đá trên và dưới mà không có phù nề nhãn cầu hoặc đau dây V nhưng thường có liệt dây VI và VII. Chẩn đoán Dịch não tủy thường không thấy biểu hiện bệnh lý, nếu không có viêm màng não hoặc ổ mủ dưới màng cứng. Chẩn đoán phân biệt viêm khe nhãn cầu, bệnh nấm mi trắng mucormycosis, bệnh nấm aspet aspergillus, tổn thương ung thư xâm lấn xương bướm và u màng não. Điều trị Phương pháp điều trị duy nhất trong trường hợp này là kháng sinh kháng tụ cầu liều cao và kháng các vi khuẩn Gram âm. Có thể sử dụng chống đông kết hợp. Viêm tĩnh mạch huyết khối xoang tĩnh mạch dọc trên Lâm sàng Đôi khi câm về lâm sàng. Thường gây co giật và triệu chứng bán liệt. Đầu tiên, các triệu chứng biểu hiện ở nửa người, sau đó có thể lan sang nửa người đối diện. Do khu trú chức năng vỏ não ờ lưu vực thu máu của xoang này mà rối loạn vận động có thể chỉ biểu hiện liệt 1 chi hoặc hiếm hơn là hạ liệt, có thể có mất cảm giác kiểu vỏ não, bán manh đồng danh hoặc bán manh 1/4, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn tiểu tiện, đau đầu, phù nề gai thị thần kinh, tăng áp lực nội sọ. Cận lâm sàng Chụp tĩnh mạch cổ qua da jugular venography thấy xoang tĩnh mạch không ngấm thuốc. Chụp động mạch não thấy xoang tĩnh mạch không ngấm thuốc trong thì tĩnh mạch. Chụp MRI thấy không có dòng chảy flow void trong xoang tĩnh mạch. Điều trị Kháng sinh liều cao. Khai thông xoang, phục hồi vận động. Điều trị co giật. Huyết khối tĩnh mạch vô khuẩn Bệnh có thể xảy ra sau viêm xoang, nhiễm khuẩn tai thường là viêm tai giữa, dẫn tới tăng áp lực nội sọ kín đáo do tắc xoang tĩnh mạch dọc giữa và xoang tĩnh mạch bên. Các triệu chứng gồm có đau đầu, nôn, phù nề gai thị, liệt dây VI hai bên, không có sốt, không có biểu hiện nhiễm độc máu, dịch não tủy bình thường. Huyết khối đồng thời nhiều tĩnh mạch hoặc xoang tĩnh mạch não thường có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng với nhiều hội chứng khác nhau làm cho việc chẩn đoán rất khó khăn. Một số trường hợp huyết khối tĩnh mạch nội sọ vô căn kèm theo tổn thương cả các tĩnh mạch ngoài sọ. Các yếu tố có lợi cho huyết khối tĩnh mạch nội sọ là tình trạng tăng tiểu cầu, tăng fibrin máu, tình trạng sau mổ, sau sinh đẻ, bệnh tim bẩm sinh, bệnh hồng cầu lưỡi liềm, bệnh đa hồng cầu… Khi chẩn đoán lâm sàng cần có các yếu tố kể trên. Chẩn đoán lâm sàng Về phương diện lịch sử, huyết khối tĩnh mạch nội sọ được mô tả lần đầu tiên trên phim X quang chụp có tiêm cản quang trực tiếp vào xoang tĩnh mạch dọc trên. Tiêu chuẩn vàng chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch nội sọ là MRI và MRV MR – venography. Hình ảnh điển hình của huyết khối tĩnh mạch nội sọ trên phim chụp mạch mã hóa xóa nền là + Các xoang tĩnh mạch màng cứng không ngấm thuốc. + Các xoang tĩnh mạch bên dãn, xoắn vặn và gấp khúc. + Thời gian tuần hoàn động tĩnh mạch tăng. Một phương pháp chẩn đoán khác là chụp tĩnh mạch ngược dòng retrograd venography, nhưng phương pháp này rất khó thực hiện vì áp lực nội sọ tăng sẽ cản trở rất nhiều việc ngấm thuốc. Dù sao đi nữa chụp tĩnh mạch não vẫn luôn là phương pháp chiếm ưu thế trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch nội sọ. Ngoài mục đích chẩn đoán, thông qua catheter người ta có thể tiếp cận tới được cục huyết khối và bơm thuốc phá hủy cục huyết khối. Chụp cắt lớp vi tính có chỉ định khi bệnh nhân có tổn thương thần kinh khu trú. + Ưu thế của CT giá rẻ, nhanh, có thể chẩn đoán các tổn thương kèm theo như nhồi máu tĩnh mạch não, chảy máu não gặp ở 10 – 50% số bệnh nhân có huyết khối tĩnh mạch nội sọ. + Trêm phim CT không bơm thuốc cản quang có thể nhìn thấy tỷ trọng tĩnh mạch và thấy dấu hiệu cột cord sign ở khoảng 20% số bệnh nhân, thường thấy vào tuần thứ 1 và 2 sau khi bị huyết khối. Tuy nhiên, biểu hiện này cũng có thể có dương tính giả ở các trường hợp trẻ em, các bệnh nhân mất nước cũng như bệnh nhân tăng hemoglobin. + Trên phim CT có cản quang có dấu hiệu delta rỗng ẹmpty delta sign biểu hiện là vùng ngoại vi xung quanh sát với màng cứng có viền ngấm thuốc cản quang, ở giữa là vùng đặc rõ rệt không ngấm thuốc. Dấu hiệu này gặp ở khoảng 10 – 30% số bệnh nhân HK xoang tĩnh mạch dọc trên. Hình ảnh này có phần âm tính giả 4 – 25%. Nhậy và đặc hiệu nhất với huyết khối tĩnh mạch nội sọ là MRI và MRV. Trên phim cộng hưởng từ sẽ thấy các sản phẩm phân hủy của hemoglobin huyết khối có biểu hiện tăng tín hiệu đặc hiệu trên hình ảnh T1. Các phương pháp này có thể cho phép phát hiện cả nhồi máu đơn giản và nhồi máu chảy máu. Tuy nhiên, phương pháp sẽ dương tính giả khi các xoang mất bẩm sinh hoặc thiểu sản, âm tính giả khi tín hiệu của met hemoglobin giống tín hiệu của máu lưu thông hoặc khi có nhiều ảnh. Siêu âm xuyên sọ TCD có thể được sử dụng để chẩn đoán và theo dõi huyết khối tĩnh mạch nội sọ. Siêu âm thường sẽ tốt đối với các bệnh nhi còn thóp và giảm nhậy ở người lớn. Chẩn đoán phóng xạ bằng technetium – 99m, độ nhậy cao trong giai đoạn bán cấp. EEG có thay đổi ở 2/3 số bệnh nhân, biểu hiện sóng chậm khu trú hoặc lan toả, sóng nhọn khu trú, phức bộ nhọn chậm. Dịch não tủy không có thay đổi đặc hiệu. Xét nghiệm máu thấy có D – dimmer tăng, tuy nhiên, không đặc hiệu cho bệnh lý tĩnh mạch não. ĐIỀU TRỊ Điều trị nguyên nhân Tùy theo từng bệnh nhân cụ thể, ví dụ do nhiễm khuẩn cần cho kháng sinh liều cao và phổ rộng, do bệnh Behoet cho corticoid liều cao và ức chế miễn dịch… Điều trị triệu chứng Hạ áp nội sọ, chống nhiễm khuẩn, điều trị các bệnh đông máu, chống co giật… Điều trị chống đông và phá hủy cục máu Cho heparin để đạt aPTT activated thromboplastin time lớn hơn 2,0 đến 2,5 lần nhóm chứng cho tới khi có tác dụng lâm sàng, thế nhưng khi có biến chứng chảy máu thì tỷ lệ tử vong sẽ cao 69%, khi có chảy máu mà dừng heparin thì tỷ lệ tử vong giảm 15%. Nhiều tác giả cắt heparin và điều trị tiếp băng coumarin, warfarin khi có chảy máu, liệu trình điều trị sẽ kéo dài thường là 3 tháng. Aspirin ít có tác dụng trong giai đoạn cấp tính của huyết khối tĩnh mạch não. Điều trị phận hủy cục huyết khối thrombolysis bằng rt-PA recombinant tissue plasminogen activator hoặc băng urokinase, có thể sử dụng toàn thân hoặc tại chỗ; tuy nhiên, phương pháp điều trị toàn thân luôn có nguy cơ chảy máu tiêu hóa lớn và chảy máu nội sọ. Điều trị phẫu thuật Phẫu thuật được chỉ định khi huyết khối tĩnh mạch nội sọ gây tăng áp nội sọ ác tính, mất thị lực hoặc chảy máu nội sọ.
Huyết khối tĩnh mạch nội sọ được xem là một bệnh ít gặp với triệu chứng lâm sàng đa dạng, do đó có nhiều trường hợp huyết khối tĩnh mạch nội sọ không được phát hiện hoặc phát hiện trễ, dẫn đến nguy hiểm sức khỏe của người bệnh. Huyết khối tĩnh mạch nội sọ là một bệnh lý hiếm gặp thuộc nhóm bệnh mạch máu não. Theo thống kê, huyết khối tĩnh mạch nội sọ chiếm toàn cảnh bệnh lý đột quỵ não. Bệnh có biểu hiện lâm sàng đa dạng, do đó nhiều trường hợp bệnh không được phát hiện hoặc phát hiện trễ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người khối tĩnh mạch nội sọ thường gặp ở mọi lứa tuổi và cả 2 giới, tuy nhiên, bệnh được ghi nhận gặp nhiều ở nữ giới hơn so với nam giới bởi có liên quan đến thời kỳ mang thai và hậu ra, người bệnh cũng sẽ có nguy cơ cao nếu đang uống thuốc tránh thai, nhiễm trùng vùng tai mũi họng, bệnh ung thư hoặc gặp phải các tình trạng tăng đông, chấn thương đầu, chọc dò tủy sống,...Tuy nhiên, cũng có khoảng 1/3 trường hợp không tìm được nguyên nhân gây huyết khối tĩnh mạch nội sọ hoặc nó khởi phát đột ngột như các thể của đột quỵ mạch máu khối tĩnh mạch nội sọ là một bệnh lý dễ bị bỏ sót vì không có triệu chứng đặc hiệu nổi bật trong thời kỳ sớm, do đó mọi người nên chủ động đến cơ sở y tế thăm khám, khi có biểu hiện hoặc thăm khám tổng quát định kỳ, đặc biệt là ở những người có các yếu tố nguy cơ như trên. 2. Chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch nội sọ Huyết khối tĩnh mạch nội sọ có một số triệu chứng thường gặp nhất là đau đầu, giảm ý thức, co giật và dấu hiệu thần kinh khu trú. Tuy nhiên, các biểu hiện này thường gặp ở nhiều bệnh lý khác nên để chẩn đoán xác định cần dựa vào hình ảnh học như chụp CT, MRI tĩnh mạch sọ não, một số trường hợp cần thiết có thể chụp DSA tĩnh mạch não. Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như sauChụp điện toán cắt lớp CT scan chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch nội sọ Chụp CT gồm có chụp có tiêm thuốc cản quang tăng quang của các xoang màng cứng quanh vùng huyết khối không tăng quang và chụp tĩnh mạch đồ bằng CT mục đích để thấy được những vùng căng phồng của huyết khối tĩnh mạch và vùng không có mạch máu. Kỹ thuật này có thể thấy sự phồng ra khu trú hoặc lan tỏa của tĩnh mạch. Kỹ thuật này cũng có thể nhìn thấy được tăng đậm độ xoang tĩnh mạch và những tĩnh mạch vỏ não. Những tổn thương nhu mô và các tổn thương có đậm độ giảm thấp, phù, xuất huyết. Nếu huyết khối tĩnh mạch não trong thì đồi thị và hạch nền sẽ bị ảnh hưởng. Khoang dưới nhện có thể xuất MRI chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch nội sọ Ở thể cấp tính, chụp MRI sẽ không có những dòng chảy trống trong xoang màng cứng, tuy nhiên ở thể bán cấp thì các xoang tăng tỷ trọng trên T1W và T2W. Còn các tổn thương nhu mô là tỷ trọng tăng trên T2W/FLAIR có phù kèm theo xuất huyết và trương phồng khu trú hoặc tổn thương lan DSA tĩnh mạch não chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch nội sọ Trong một vài trường hợp có thể bác sĩ yêu cầu người bệnh phải chụp DSA tĩnh mạch não để đánh giá thêm chẩn dò tủy sống chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch nội sọ Sau khi đã loại trừ được do tổn thương khối choán chỗ thì sẽ sử dụng phương pháp chọc dò tủy sống. Nếu khi chọc dò tủy sống, áp lực dịch não tủy > 20cm nước thì có thể chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch nội những phương pháp chẩn đoán trên, có thể người bệnh cần làm thêm một số kỹ thuật chẩn đoán khác. Nếu xuất hiện tình trạng phù trước sau đó xuất huyết xung quanh thì có thể là do tăng áp lực tĩnh mạch. Tuy nhiên, do kích thước xoang tĩnh mạch bên và tĩnh mạch vỏ não thay đổi bình thường nên sẽ làm cho chẩn đoán trở nên khó khăn hơn. Huyết khối tĩnh mạch nội sọ có một số triệu chứng thường gặp nhất là đau đầu, giảm ý thức 3. Điều trị huyết khối tĩnh mạch nội sọ Sau khi chẩn đoán phát hiện huyết khối tĩnh mạch nội sọ thì cần phải điều trị càng sớm càng tốt. Do đó, việc chẩn đoán sớm và chính xác huyết khối tĩnh mạch nội sọ cho người bệnh có ý nghĩa rất lớn trong việc điều trị điều trị huyết khối tĩnh mạch nội sọ quan trọng nhất là kháng đông, ngoài ra việc điều trị cần kết hợp với tình trạng tăng áp lực nội sọ, điều trị nguyên nhân nếu tìm thấy. Các phương pháp điều trị huyết khối tĩnh mạch nội sọ cụ thể như sauĐiều trị nhiễm trùng kết hợp khi bị huyết khối tĩnh mạch nội sọ;Sử dụng thuốc kháng đông với Heparin sau đó là Warfarin trong vòng 6 tháng. Nếu tình trạng tăng đông vẫn còn thì cần kéo dài việc sử dụng thuốc cho người bệnh;Nếu việc điều trị huyết khối tĩnh mạch nội sọ không đáp ứng hoặc nặng hơn thì cần phải xem xét điều trị tiêu sợi huyết tại chỗ cho người bệnh;Điều trị tăng áp lực nội sọ;Chọc dò tủy sống hoặc có thể dẫn lưu tủy sống ra ngoài hay tạo shunt tủy sống phúc mạc;Sử dụng thuốc Mannitol Nhưng nếu không đáp ứng hoặc tình trạng diễn tiến xấu hơn thì cần xem xét dùng thuốc an thần, thở máy và phẫu thuật sọ giải áp cho người bệnh;Sử dụng thuốc chống co giật phenytoin đường tĩnh mạch hoặc thuốc valproate ở người bệnh huyết khối tĩnh mạch nội lại, huyết khối tĩnh mạch nội sọ là một bệnh lý thần kinh hiếm gặp, tuy nhiên bệnh có thể điều trị hiệu quả. Việc điều trị hiệu quả còn phụ thuộc vào chẩn đoán chính xác, nhanh chóng, do đó khi khám lâm sàng thần kinh thì cần khám thật cẩn thận, chụp MRI sọ não và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác để tránh bỏ sót những trường hợp hiếm gặp đảm bảo an toàn và ngăn ngừa biến chứng nguy hiểm, người bệnh cần đến bệnh viện uy tín để tiến hành thăm khám và điều trị ngay khi có dấu hiệu của huyết khối tĩnh mạch nội sọ. Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện uy tín cả nước, được đông đảo người bệnh tin tưởng thăm khám và điều trị bệnh. Không chỉ có hệ thống cơ vật chất, trang thiết bị hiện đại 6 phòng siêu âm, 4 phòng chụp X- quang DR 1 máy chụp toàn trục, 1 máy tăng sáng, 1 máy tổng hợp và 1 máy chụp nhũ ảnh, 2 máy chụp Xquang di động DR, 2 phòng chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu thu 1 máy 128 dãy và 1 máy 16 dãy, 2 phòng chụp Cộng hưởng từ 1 máy 3 Tesla và 1 máy Tesla, 1 phòng chụp mạch máu can thiệp 2 bình diện và 1 phòng đo mật độ khoáng xương....Vinmec còn là nơi quy tụ đội ngũ các y, bác sĩ giàu kinh nghiệm sẽ hỗ trợ phần nhiều trong việc chẩn đoán và phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường của cơ thể người bệnh. Đặc biệt, với không gian được thiết kế theo tiêu chuẩn khách sạn, Vinmec đảm bảo sẽ mang đến cho người bệnh sự thoải mái, thân thiện, yên tâm nhất. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Huyết khối tĩnh mạch não sau tiêm vắc-xin Covid-19 Huyết khối tĩnh mạch não và những điều cần biết Cận lâm sàng và điều trị huyết khối tĩnh mạch não
HUYẾT KHỐI TỈNH MẠCH SÂU CHI DƯỚI Đại cương Huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới HKTMSCD là tình trạng xuất hiện cục máu đông bên trong tĩnh mạch, bao gồm các tĩnh mạch vùng cẳng chân, khoeo, đùi, các tĩnh mạch chậu và tĩnh mặch chủ dưới, gây tăc nghẽn hoàn toàn hoặc một phân dòng máu trong lòng tĩnh mạch. Tắc mạch phổi là biến chứng nguy hiểm nhất của huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới. Có tới 79% bệnh nhân tắc mạch phổi cấp có biểu hiện của HKTMSCD, và ngược lại, trên 50% bệnh nhân HKTMSCD có biến chứng tắc mạch phổi. Việc phát hiện sớm HKTMSCD và tắc mạch phổi, cũng như sự tiến bộ của các phương pháp điều trị đã giúp cải thiện tiên lượng sống còn của bệnh nhân. Chẩn đoán xác định Tìm các yếu tố nguy cơ gây bệnh Bảng Các yếu tố nguy cơ của HKTMSCD Tuổi > 40 Bệnh ung thư Nằm lâu, cấp cứu nội Bệnh tạo keo Tiền sử HKTMSCD Hội chứng thận hư Béo phì Rối loạn tăng sinh tủy Đột quỵ, suy tim. Suy tĩnh mạch Bệnh nội khoa mạn tính Uống thuốc tránh thai Suy hô hấp Hormon trị liệu Viêm phổi, nhiễm trùng nặng Sau đặt catheter tĩnh mạch Phẫu thuật xương khớp, sản khoa, chấn thương Khám phát hiện các triệu chứng Khả năng chẩn đoán trên lâm sàng chắc chắn hơn nếu các triệu chứng xuất hiện ở một bên chân Thường khó ở giai đoạn đầu do triệu chứng kín đáo, cần lưu ý tìm, phát hiện triệu chứng ở các đối tượng có yếu tố nguy cơ. Hoàn cảnh phát hiện Thường bệnh nhân đến khám khi có các biếu hiện sau Đau hoặc dị cảm bắp chân, sốt nhẹ, lo lắng. Khám thực thể Phải so sánh hai chân. Các bất thường xảy ra ở một bên chân trong trường hợp điển hình Đau khi sờ vào bắp chân, có thế tìm thấy thừng tĩnh mạch tư thế gập chân một nửa. Dấu hiệu Homans Đau khi gấp mặt mu của bàn chân vào cẳng chân Tăng cảm giác nóng tại chỗ. Tăng thể tích bắp chân đo chu vi bắp chân và đùi mỗi ngày. Phù mắt cá chân. Giảm sự đu đưa thụ động cẳng chân. Giãn tĩnh mạch nông. Triệu chứng lâm sàng của bệnh HKTMSCD đôi khi không điển hình, thường phải kết họp triệu chửng lâm sàng và các yếu tố nguy cơ dựa theo các thang điểm chẩn đoán nguy cơ mắc bệnh. Bảng 2. Thang điểm WeUs và Kahn Dấu hiệu Điểm Đang bị ung thư 1 điểm Liệt hay mới bó bột 1 điểm Mới bất động hay sau phẫu thuật lớn 1 điểm Đau dọc tĩnh mạch sâu 1 điểm Phù bắp chân chỉ 1 bên 1 điểm Phù mềm 1 điểm Giãn tĩnh mạch nông -1 điểm Các chẩn đoán khác tương tự -2 điểm Thang điếm Aquitain chẩn đoán khả năng bị HKTMSCD Giới nam +1 Bại liệt hoặc bó bột chi dưới +1 Bất động tại giường > 3 ngày +1 Sưng nề một chân + 1 Đau 1 bên chân +1 Các chẩn đoán khác tương tự HKTMSCD -1 Theo thang điểm này, những bệnh nhân từ 3 điểm trở lên thì xác suất mắc bệnh cao khả năng bị HKTMSCD 80%, từ 1-2 điểm xác suất mắc bệnh trung bình khả năng bị HKTMSCD 30%, từ 0 điểm trở xuống thì ít có khả năng bị bệnh khả năng bị HKTMSCD 5%. Theo dõi Tìm các triệu chứng trên ở tất cả các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ. Tìm triệu chứng lan rộng của huyết khối. + Thăm trực tràng, âm đạo tìm huyết khối lan lên vùng chậu. + Mạch, huyết áp, nghe phổi —» phát hiện tắc máu phổi. + Tìm triệu chứng suy tim phải.. + Phát hiện biến chứng nhồi máu phổi. Xét nghiệm cần làm Siêu âm – Doppler mạch Siêu âm + -> chẩn đoán xác định. Siêu âm - nhưng lâm sàng nghi ngờ —> chụp tĩnh mạch. Xét nghiệm máu Công thức máu, máu lắng, tiểu cầu, D-Dimer Đường máu, chức năng thận, chức năng gan, điện giải đồ. Đông máu toàn bộ tỷ lệ Prothrombine, Fibrinogene, sản phẩm thoái biến của Pibrine. Chẩn đoán phân biệt Phù chân do bệnh khác như suy tim, phù thận phù hai bên chân, phù bạch mạch, vỡ nang nước vùng khoeo hoặc tụ máu trong cơ. Trong những trường họp nghi ngờ cần làm siêu âm Doppler để chẩn đoán xác định. Tiến triền, biến chứng Tiến triển thuận lợi Chiếm đa số nếu chấn đoán và điều trị kịp thời. Các triệu chứng tại chồ và toàn thân tiến triển nhanh. Ngày thứ 5 bệnh nhân có thế đứng dậy được với bó chân. Biến chứng Huyết khối lan rộng lên vùng các tĩnh mạch chủ chậu hoặc sang chân đối diện. Tắc mạch phổi rất nặng, ảnh hưởng đến tiên lượng sống. Tái phát các đợt tắc tĩnh mạch khác. Bệnh sau viềm tắc tĩnh mạch suy tĩnh mạch sau huyết khối. Tiên lượng Tốt, nếu điều trị nhanh, hữu hiệu. Nặng, có thể tử vong nếu tắc tĩnh mạch lan rộng gây tắc mạch phổi, tắc mạch thận. Tàn phế do các biến chứng sau tắc tĩnh mạch mạn tính. Điều trị Giai đoạn đang bị viêm tắc tĩnh mạch Biện pháp không đặc hiệu Bất động tại giường. Bàn chân nâng hơi cao. Băng chân bằng băng chun rất cần thiết để bệnh nhân có thể đứng dậy ở ngày thứ 5. Thuốc chống đông Heparin + Heparin không phân đoạn Truyền bơm tiêm điện liều 50 đơn vị/kg tĩnh mạch sau đó duy trì 500 đơn vị/kg/ngày. Theo dõi thời gian Howell gấp 2-3 lần chứng là được. + Hoặc dùng Heparin trọng lượng phân tử thấp ưu điểm là thuốc có độ an toàn cao, hấp thu tốt và ổn định. Cách dùng và liều lượng Tiêm dưới da bụng 70-100 UI/kg/12h Theo dõi tiếu cầu, cần lưu ý chỉnh liều với người suy thận. Ở người có mức lọc cầu thận 80 tuổi cần định lượng anti-Xa sau khi tiêm mũi đầu 3h để đề phòng nguy cơ chảy máu. Nếu mức lọc cầu thận Lovenox 0,4ml X 2 bơm/ngày Thuốc kháng vitamỉne K Bắt đầu ngay ngày đầu tiên để giảm tối đa thời gian dùng Heparine. Thử INR sau 48 giờ, sau đó lặp lại cho đến khi đạt được INR từ 2 đến 3. Kéo dài điều trị thuốc này trong 3 tháng, có khi lâu hơn trong trường họp viêm tắc tĩnh mạch mạn tính; có khi phải điều trị suốt đời nếu có bất thường về đông máu. Bệnh nhân phải được giải thích, giáo dục về cách dùng, cách theo dõi khi dùng thuôc này, phát sổ theo dõi điều trị chống đông cho bệnh nhân. Băng/tất áp lực Hỗ trợ tốt trong điều trị, giúp làm giảm nhanh các triệu chứng, giảm nguy cơ bệnh lý hậu huyết khối. Có thể dùng băng chun hoặc tất áp lực độ 2-3. cần đi tất áp lực hoặc quấn băng chung trong suốt mẩy ngày đầu, sau đó cần đi tất ban ngày có thế không đi tất áp lực ban đêm. Hình Cách quẩn băng áp lực chỉ dưới trong trường hợp bị HKTM chi dưới Các biện pháp khác Tiêu huyết khối + Không lợi hơn so với điều trị kinh điển. + Có thể áp dụng cho trường hợp viêm tắc tĩnh mạch xanh. Phẫu thuật lấy huyết khối + Có thể chỉ định khi huyết khối đoạn gần, lan rộng kèm cục máu đông bay phấp phới. + Bệnh nhân vào viện ngay những giờ đầu. Cắt bỏ tĩnh mạch bị huyết khối rất ít áp dụng. Điều trị dự phòng Đứng dậy sớm sau khi mổ hoặc sau khi sinh. Tránh nằm liệt giường với người lớn tuổi, người suy tim. Dùng thuốc chống đông dự phòng với các đối tượng có nguy cơ cao + Phẫu thuật có nguy cơ cao Lovenox 4000 đơn vị/ngày + Phẫu thuật nguy cơ thấp Lovenox 2000 đơn vị /ngày. Điều trị sau tắc mạch Tránh tư thế đứng. Nên nằm và ngồi gác chân cao. Cần đi tất áp lực hoặc băng chun lâu dài. Nên giảm cân nếu thừa cân, béo phì. Thường xuyên vệ sinh da chân, tránh nhiễm trùng ngoài da. Có thể cắt bỏ tĩnh mạch nếu có biến chứng suy tĩnh mạch nặng. Tài liệu tham khảo Khuyến cáo về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa giai đoạn 2006-2010. Alex c. Spyropoulos, Charles Mahan. Venous Thromboembolism Prophylaxis in the MCƠical Patient Controversies and Perspectives. The American Journal of MCƠicine, Volume 122, Issue 12, December 2009, Pages 1077-1084. Cohen A. 1991. Thromboses veineuses proíòndes. Cardỉologie et pathologie vasculaỉre. Estem, Parỉs, 649 – 670. Dominique Parge, Lise Bosquet, Diana Kassab-Chahmi et al. 2008 french national guidelines for the treatment of venous thromboembolism in patients with cancer. Crỉtical Reviews in Oncoỉogy/Hematology, Volume 73, Issue ỉ, danuary 2010, 31-46. Walter Ageno. Treatment of Venous Thromboembolism. Thrombosis Research, Voỉume 97, Issue 1,1 danuary 2000, V63- V72.
I. NHẬP ĐỀ Tĩnh mạch não chứa khoảng 70% tổng thể tích máu não nhưng huyết khối tĩnh mạch nội sọ HKTMNS là một dạng đột quỵ ít gặp thường xảy ra ở người trẻ 78% dưới 50 tuổi, chiếm 5% xuất huyết não khác với đột quị động mạch. Tĩnh mạch não được chia thành 2 nhóm và nhìn chung dẫn lưu về các xoang tĩnh mạch gần nó nhất, hai nhóm đó là hệ thống tĩnh mạch nông và sâu Cơ chế sinh huyết khối tĩnh mạch giải thích theo tam chứng Virchow bao gồm sự thay đổi của thành mạch, các thành phần trong máu, sự lưu thông dòng chảy. Khi một trong 3 thành phần này bất thường sẽ tăng nguy cơ tạo huyết khối. Chẩn đoán và điều trị khó khăn vì yếu tố nguy cơ và bệnh cảnh lâm sàng đa dạng, lại không có điều trị chuẩn mực. Xuất độ mỗi năm 1,23/ dân. II. NGUYÊN NHÂN VÀ SINH BỆNH HỌC - Tình trạng tăng đông 34% - Các rối loạn khác về máu 12% - Bệnh hệ thống - Ung thư - Thuốc ngừa thai - Thai kỳ, chu sinh 21% - Thuốc Androgen, Danazol, Lithium, Vitamin A, IV immunoglobulin, Ecstasy - Nhiễm trùng lân cận màng não. - Phẫu thuật, chấn thương. - Cơ học biến chứng của miếng vá ngoài màng cứng bằng máu, giảm áp lực nội sọ tự phát, chọc dò dịch não tủy. III. CHẨN ĐOÁN HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH NỘI SỌ Dựa vào sự nghi ngờ trên lâm sàng và xác định lại bằng hình ảnh học 1. Các dấu hiệu lâm sàng Bệnh cảnh lâm sàng thường thuộc một trong bốn nhóm chính, phụ thuộc vào vị trí tĩnh mạch tắc nghẽn Các bệnh nhân có tăng áp lực nội sọ đơn thuần Là dạng nhẹ nhất và tiên lượng tốt nhất, tỉ lệ gặp khoảng 23 - 28%. Hầu hết chỉ có đau đầu, một số có nhìn đôi do liệt dây VI thứ phát do tăng áp lực nội sọ; nếu có phù gai thị hiếm gặp, bệnh nhân có thể có mất thị trường ngoại vi. Các bệnh nhân có dấu thần kinh khu trú Có thể có triệu chứng âm tính khiếm khuyết thần kinh, gặp trong 40% các trường hợp do tổn thương vỏ não khu trú của đột quỵ tĩnh mạch nhồi máu và/hoặc xuất huyết, hoặc triệu chứng dương tính biểu hiện của hoạt động động kinh khu trú gặp trong 40% các trường hợp. Tỉ lệ co giật cao hơn nhiều so với đột quỵ động mạch, do đó cần nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch ở các bệnh nhân có sang thương thiếu máu não và khởi phát có co giật. Bệnh nhân co giật có sang thương nhu mô có nguy cơ tái phát cao hơn người không có sang thương nhu mô. Các bệnh nhân có dấu định vị ở hai bên hoặc một bên rồi nhanh chóng xuất hiện thêm ở bên kia rất gợi ý tắc xoang tĩnh mạch dọc trên, dù hiếm 3% các bệnh nhân theo một nghiên cứu Các bệnh nhân có hôn mê và thay đổi hành vi Chiếm 14% các trường hợp. Gồm hôn mê, sảng, mất trí nhớ hoặc câm lặng; thường có kết cục xấu, vì thường là hậu quả của tắc nghẽn hệ thống tĩnh mạch sâu, tuần hoàn sau, hoặc tắc nhiều xoang. Biểu hiện này cũng gặp ở các bệnh nhân có sang thương nhồi máu hoặc xuất huyết lớn trên lều biến chứng tụt não. Các bệnh nhân có đau đầu, nhìn đôi do liệt các dây sọ, phù mi mắt và phù sung huyết kết mạc Chiếm khoảng 1,3% số trường hợp. Hội chứng này đặc trưng của tắc xoang tĩnh mạch hang. Kiểu các khởi phát rất thay đổi, có thể cấp 37,2%, bán cấp 55% hay mạn tính 7,2%. Đặc điểm đau đầu trong huyết khối tĩnh mạch nội sọ Đau đầu rất thường gặp và 20% trường hợp chỉ có đau đầu đơn thuần. Đau đầu không có đặc tính chuyên biệt, có thể cấp, bán cấp hoặc mạn tính, có thể khu trú hoặc lan tỏa, ở bất kỳ mức độ nặng nào, có thể kèm buồn nôn và nôn, có thể dạng liên tục hoặc nảy mạch đôi khi nhầm lẫn với migraine 2. Các yếu tố lâm sàng gợi ý HKTMNS - Đau đầu cần nghĩ đến HKTMNS với o Mọi đau đầu cấp tính hoặc bán cấp mức độ nặng o Mọi trường hợp đau đầu không lý giải được căn nguyên ở các bệnh nhân nguy cơ cao, như người đã biết có tình trạng tăng đông, phụ nữ có thai hoặc chu sinh, người đang dùng thuốc ngừa thai uống - Cơn động kinh cục bộ hoặc toàn thể mới khởi phát, đặc biệt ở các bệnh nhân có bệnh cảnh giống đột quỵ. - Triệu chứng hai bán cầu não rối loạn ý thức hoặc hành vi, hoặc khiếm khuyết thần kinh hai bên có thể không đồng thời xuất hiện. - Bệnh cảnh giống đột quỵ nhưng triệu chứng diễn tiến chậm hơn 3. Thăm dò cận lâm sàng a. Xét nghiệm thường quy Công thức máu, lắng máu, đông máu PT, aPTT, XN cơ bản khác b. Chọc dò dịch não tủy Không giúp ích chẩn đoán ở bệnh nhân có dấu thần kinh khu trú và đã xác định chẩn đoán bằng hình ảnh học, trừ trường hợp có nghi ngờ viêm màng não. DNT thường không có biến đổi đặc hiệu 80% có tăng áp lực mở DNT, >50% có tăng bạch cầu, >35% có tăng protein. DNT bình thường không loại trừ chẩn đoán. c. D-Dimer Định lượng D-Dimer chỉ nên xem như một yếu tố gợi ý; Các nghiên cứu trước đây ghi nhận D-Dimer >500 ig/L có độ nhạy cao nhưng đặc hiệu không cao, và thường dùng để loại trừ HKTM ở những bệnh nhân nguy cơ thấp. Tuy nhiên, một nghiên cứu năm 2005 Crassard I. et al; Stroke. 2005;361716. ghi nhận 4% bệnh nhân HKTMNS và 16% bệnh nhân HKTMNS với đau đầu đơn thuần có D-Dimer 37, giới nam - Triệu chứng lâm sàng hôn mê, các thiếu hụt thần kinh và thang điểm NIHSS nặng, bệnh não, rối loạn ý thức nặng dần GCS < 9 điểm, liệt nửa người, động kinh - Hình ảnh học xuất huyết nội sọ, liên quan huyết khối xoang thẳng, huyết khối tĩnh mạch sâu kèm theo, nhồi máu tĩnh mạch - Yếu tố nguy cơ ung thư, nhiễm trung hệ thần kinh trung ương, liên quan tình trạng tăng đông di truyền.
Việc điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu nhằm 4 mục đích chính bao gồm Ngăn ngừa cục máu đông phát triển lớn hơn, Ngăn không cho cục máu đông vỡ ra và di chuyển đến phổ Giảm nguy cơ hình thành cục máu đông ở các vùng khác Ngăn ngừa các biến chứng. Bác sĩ thường sẽ chỉ định các phương pháp điều trị bao gồm Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu bằng thuốc làm loãng máu Thuốc chống đông máu, hay còn được gọi là thuốc làm loãng máu là phương pháp điều trị phổ biến trên huyết khối tĩnh mạch sâu. Những loại thuốc này không có tác dụng phá vỡ cục máu đông hiện có, nhưng chúng có thể giúp ngăn cục máu đông phát triển lớn hơn và giảm nguy cơ hình thành thêm nhiều cục máu đông hơn. Thuốc làm loãng máu có thể được uống hoặc tiêm thông qua đường tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da. Một số loại thuốc làm loãng máu dạng tiêm được sử dụng phổ biến nhất là heparin, enoxaparin và fondaparinux. Sau khi dùng thuốc làm loãng máu dạng tiêm trong vài ngày, bác sĩ có thể cho bạn đổi sang thuốc viên. Một số loại thuốc làm loãng máu dạng viên đường uống có thể bao gồm warfarin và dabigatran. Nếu dùng thuốc warfarin, bạn có thể sẽ phải cần xét nghiệm máu thường xuyên để kiểm tra mức độ đông máu. Việc điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu bằng thuốc làm loãng máu có thể phải kéo dài trong khoảng 3 tháng hoặc thậm chí lâu hơn. Điều quan trọng là bệnh nhân phải uống thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ. Tác dụng phụ thường gặp nhất của thuốc chống đông máu là chảy máu. Hãy gọi cho bác sĩ ngay lập tức nếu bạn nhận thấy rằng mình dễ bị bầm tím hoặc chảy máu tự nhiên hoặc khó cầm trong khi dùng thuốc này. Ngoài ra, phụ nữ mang thai không nên dùng một số loại thuốc làm loãng máu. Thuốc làm tan huyết khối Thuốc làm tan huyết khối có thể được kê đơn trong trường hợp phải điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu nghiêm trọng hoặc các loại thuốc khác không có hiệu quả. Những loại thuốc này thường được truyền thông qua đường tĩnh mạch hoặc qua một ống thông được đặt trực tiếp vào cục máu đông. Thuốc làm tan huyết khối có thể gây tác dụng phụ là chảy máu nghiêm trọng, vì vậy, chúng thường chỉ được kê đơn cho những trường hợp có huyết khối nghiêm trọng. Lưới lọc tĩnh mạch Nếu bạn có chống chỉ định với thuốc làm loãng máu thì việc điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu có thể phải sử dụng một lưới lọc tĩnh mạch. Lưới lọc được đưa qua một ống thông vào tĩnh mạch lớn ở bẹn hoặc cổ, sau đó vào tĩnh mạch chủ. Khi đã vào đúng vị trí, bộ lọc sẽ bắt lấy các cục máu đông nếu nó vỡ ra và di chuyển trong cơ thể. Phương pháp này giúp ngăn ngừa cục máu đông tới phổi và gây thuyên tắc phổi, nhưng không ngăn ngừa sự hình thành nhiều cục máu đông mới. Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu bằng vớ áp lực Những đôi vớ đặc biệt này thường dành cho đầu gối để làm giảm nguy cơ máu bị ứ đọng và đông lại làm phù chân. Phù thường là do các van trong tĩnh mạch chân bị hư hỏng hoặc tĩnh mạch bị tắc nghẽn bởi cục máu đông. Hãy mang vớ áp lực ngay dưới đầu gối. Những chiếc vớ này thường sẽ chật ở mắt cá chân và lỏng dần khi lên trên để tạo ra áp lực nhẹ lên chân. Bạn nên mang những đôi vớ này hằng ngày trong ít nhất 2 năm nếu có thể. Phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu trở nặng Trong quá trình điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu, điều quan trọng là bệnh nhân phải tuân theo một số thay đổi trong lối sống để kiểm soát tình trạng bệnh và ngăn ngừa cục máu đông khác có thể hình thành. Một số thay đổi lối sống nên được áp dụng bao gồm Quan tâm đến chế độ ăn uống. Các loại thực phẩm giàu vitamin K, chẳng hạn như rau bina, cải xoăn, các loại rau lá xanh khác có thể cản trở hiệu quả của thuốc warfarin trong điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu. Nên hỏi bác sĩ về loại thuốc bạn đang dùng và những điều kiêng kị trong ăn uống Uống thuốc theo chỉ định. Bác sĩ sẽ cho bạn biết là thời gian điều trị trong bao lâu và bạn cần phải tuân thủ theo liệu trình điều trị đã được đặt ra. Nếu bạn đang dùng một số loại thuốc làm loãng máu, bạn sẽ cần xét nghiệm máu để biết mức độ đông máu. Để ý xem có chảy máu nhiều không. Chảy máu, máu bầm dưới da có thể là một tác dụng phụ của thuốc làm loãng máu, nếu nghiêm trọng hãy nói với bác sĩ. Bên cạnh đó, hãy thận trọng với những hoạt động có thể khiến bạn bị bầm tím hoặc chảy máu, vì ngay cả một chấn thương nhỏ cũng có thể trở nên nghiêm trọng nếu bạn đang dùng thuốc này. Tránh ngồi yên một chỗ. Nếu bạn đang phải nằm trên giường và không di chuyển trong một thời gian dài, chẳng hạn như sau khi phẫu thuật hoặc tai nạn, nên cố gắng di chuyển và vận động càng sớm càng tốt, để giúp làm giảm khả năng hình thành cục máu đông. Tập thể dục và quản lý cân nặng. Béo phì là một yếu tố nguy cơ của căn bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu. Tập thể dục thường xuyên giúp giảm cân và làm giảm nguy cơ đông máu. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những người hay ngồi nhiều. Hy vọng thông qua bài viết này bạn đã hiểu rõ hơn về các phương pháp chẩn đoán và điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu, cũng như cách phòng ngừa hiệu quả căn bệnh này nhé!
phác đồ điều trị huyết khối tĩnh mạch nội sọ